Thứ Hai, 3/04/2023, 17:00

Mức tối ưu cho bột cá và methionine trong chế độ ăn của tôm

Sử dụng bột cá có thể giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn mà không có tác động bất lợi lớn đến năng suất của tôm, miễn là đáp ứng được nhu cầu methionine với việc bổ sung thích hợp

(Aquaculture) – Nghiên cứu cho thấy sự cân bằng hợp lý giữa bột cá và methionine trong khẩu phần ăn có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của tôm giống.

Sử dụng bột cá có thể giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn mà không có tác động bất lợi lớn đến năng suất của tôm, miễn là đáp ứng được nhu cầu methionine với việc bổ sung thích hợp
Sử dụng bột cá có thể giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn mà không có tác động bất lợi lớn đến năng suất của tôm, miễn là đáp ứng được nhu cầu methionine với việc bổ sung thích hợp

Các protein phổ biến nhất được sử dụng để thay thế bột cá trong thức ăn cho tôm là các sản phẩm phụ từ ngành giết mổ động vật (bột phụ phẩm gia cầm, bột thịt và xương, bột thịt lợn) và từ nông nghiệp (bột đậu nành, chất đạm đậu nành cô đặc, bột hạt cải, bột ngô, bột hạt bông và bột đậu phộng). Các thành phần protein độc đáo cũng đã được đánh giá với kết quả đầy hứa hẹn, bao gồm các bữa ăn từ vi khuẩn, biofloc, giun đất, côn trùng và vi tảo. Bột đậu nành cho đến nay là nguyên liệu phổ biến và được ưa chuộng nhất để hỗ trợ thay thế bột cá trong thức ăn nuôi tôm thực tế do có sẵn quanh năm và giá cả cạnh tranh, ít biến động.

Methionine (Met) được coi là axit amin thiết yếu (EAA) bị ảnh hưởng nhiều nhất khi bột cá gặp thách thức. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về mức Met tối ưu trong chế độ ăn để đáp ứng với các mức bột cá được phân loại để hỗ trợ hiệu suất tăng trưởng tôm tối đa với hiệu quả kinh tế.

Thiết lập nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm hai thử nghiệm riêng biệt. Thử nghiệm đầu tiên được thiết kế để đánh giá hiệu suất tăng trưởng của tôm khi được cho ăn các mức bột cá và Met được phân loại. Thử nghiệm thứ hai xác định hệ số tiêu hóa ​​(ADC) đối với protein thô (ACPDC) và axit amin (AAADC) của chế độ ăn với các mức bột cá được phân loại sử dụng hàm lượng Met cố định trong chế độ ăn.

+ Bốn nghiệm thức được chuẩn bị chứa 0, 6, 12 và 18% bột cá. Mỗi nghiệm thức được bổ sung DL-methionyl-DL-methionine (DL-Met-Met) để tạo ra tổng hàm lượng Met (Met + Cys) trong chế độ ăn uống là 0,58 (1,05); 0,69 (1,16) và 0,82% (1,29%). Tôm giống (1,00 ± 0,08g) được thả trong 60 bể ngoài trời có thể tích 1m3 với 100 con/m2, với 5 lần nhắc lại cho mỗi nhóm ăn. Tôm trong tất cả các nhóm được cho ăn 10 lần mỗi ngày trong 70 ngày.

+ Trong thử nghiệm tiếp theo, tỷ lệ tiêu hóa protein và axit amin trong khẩu phần ăn của bốn nghiệm thức bột cá, nhưng chỉ ở mức Met cao trong khẩu phần ăn (~0,82%), được đánh giá trong bể nuôi trong nhà 40, 60 lít (11 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức) trong 93 ngày với 70 tôm/m2.

Kết quả nghiên cứu

Tỷ lệ sống cuối cùng của tôm 92,85% ± 4,82 (trung bình ± độ lệch chuẩn), trọng lượng hàng tuần 1,17g ± 0,08, lượng thức ăn tiêu thụ ​​13,3g ± 0,5 (thức ăn cho mỗi tôm thả) và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn 1,18 ± 0,06 không bị ảnh hưởng bởi mức bột cá trong khẩu phần ăn và hàm lượng Met.

Năng suất thu được bị ảnh hưởng khi bột cá giảm từ 18% và 12% (tương ứng là 1.156 và 1.167g/m2) xuống 0 (1.090 g/m2), nhưng không có thay đổi nào ở mức 6% (1.121g/m2). Trong điều kiện 0 và 6% bột cá, mức độ cao hơn của tổng lượng Met trong chế độ ăn uống, tương ứng là 0,69% và 0,82%, được yêu cầu để tối đa hóa trọng lượng cơ thể tôm. Để so sánh, ở mức 12% và 18% bột cá, hàm lượng Met trong chế độ ăn chỉ 0,58% là đủ.

Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng mức độ bột cá trong chế độ ăn uống và hàm lượng Met (Met + Cys) và sự tương tác của chúng tác động đáng kể đến trọng lượng cơ thể của tôm thương phẩm. Các phản ứng về trọng lượng cơ thể như một chức năng của mức độ bột cá thay đổi tùy theo hàm lượng Met (Met + Cys) trong chế độ ăn uống. Ở chế độ ăn có hàm lượng Met thấp nhất (Met + Cys), tức là 0,58% (1,05%), chúng tôi quan sát thấy rằng bột cá chỉ có thể giảm từ 18% xuống 12%. Việc giảm hơn nữa dẫn đến giảm trọng lượng cơ thể tôm khi thu hoạch.

Ở mức độ vừa phải của Met trong chế độ ăn 0,6% (1,16%), bột cá có thể được loại bỏ hoàn toàn mà không có bất kỳ tác động nào đến trọng lượng cơ thể tôm, nhưng có tác động bất lợi đến năng suất. Trong khi đó, ở chế độ ăn kiêng Met cao nhất 0,82% (1,29%), bột cá có thể giảm từ 18 xuống 6%. Do đó, mức độ Met (Met + Cys) trong chế độ ăn cần thiết để tối đa hóa trọng lượng cơ thể tôm ở mức 0 và 6% bột cá dao động trong khoảng 0,69% (1,16%) và 0,82% (1,29%), trong khi ở mức 12 và 18%, chỉ 0,58% (1,05%) là cần thiết.

Hình 1: Trọng lượng cơ thể trung bình của tôm thẻ chân trắng sau 70 ngày nuôi
Hình 1: Trọng lượng cơ thể trung bình của tôm thẻ chân trắng sau 70 ngày nuôi

Đáng chú ý, hệ số tiêu hóa biểu kiến ​​Met không bị ảnh hưởng bởi bột cá trong các chế độ ăn, điều đó có nghĩa là ngay cả trên cơ sở khả năng tiêu hóa, sự khác biệt này vẫn đúng. Do đó, hiệu quả giảm bột cá trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng phụ thuộc vào mức độ Met (Met + Cys) thích hợp trong khẩu phần ăn. Điều này có thể đạt được thông qua việc bổ sung Met tinh thể hoặc bằng cách tăng các thành phần protein giàu các axit amin nguyên vẹn này.

Nghiên cứu cũng thấy rằng trong điều kiện bể ngoài trời và trong nhà, mức bột cá tối ưu trong chế độ ăn mà không ảnh hưởng xấu đến hiệu suất tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng là 6%. Để loại bỏ hoàn toàn bột cá khỏi khẩu phần, tỷ lệ khô dầu đậu nành được tăng lên 46,08%. Trong trường hợp này, hầu hết protein trong chế độ ăn uống đến từ các nguồn thực vật (bột mì, gluten lúa mì) chỉ với một phần nhỏ (4%) có nguồn gốc từ động vật (mực và nhuyễn thể).

Ở mức khô dầu đậu nành trong chế độ ăn cao hơn (45%), hệ số tiêu hóa biểu kiến ​​(ADC) đối với protein và axit amin (AA) trong khẩu phần là đủ (>80%). Do đó, hiệu suất tăng trưởng của tôm giảm khi sử dụng 0% bột cá có thể là do các yếu tố khác, bao gồm khả năng hấp thụ thức ăn kém hơn. Không quan sát thấy bất kỳ phản ứng tiêu cực về lượng thức ăn biểu kiến ​​(AFI) với hệ thống nuôi ngoài trời có thể là do tôm được cho ăn hạn chế về thức ăn. Tuy nhiên, trong các hệ thống trong nhà, khi tôm được cho ăn dư thừa, AFI giảm khi tôm được cho ăn chế độ ăn có chứa 0 và 6% bột cá.

Quan điểm

Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng lượng Met trong chế độ ăn cần thiết để tối đa hóa năng suất tăng trưởng của tôm phụ thuộc vào lượng bột cá trong chế độ ăn. Lượng DL-methionyl-DL-methionine bổ sung cao hơn làm giảm sự phụ thuộc vào bột cá. Việc bổ sung tổng số DL-Met-Met vào chế độ ăn là 0,34% có thể làm giảm lượng bột cá đưa vào từ 18 đến 6% mà không có bất kỳ tác động tiêu cực nào đến năng suất của tôm.

Nhìn chung, việc sử dụng bột cá có thể được giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn mà không gây tác động bất lợi lớn đến năng suất của tôm, miễn là đáp ứng nhu cầu methionine với việc bổ sung CAA thích hợp. Thức ăn không có bột cá hoặc chỉ có 6% với mức Met trong khẩu phần ăn (cơ sở cho ăn), tức là, lần lượt là 0,69 và 0,82%, mang lại hiệu suất tăng trưởng, lợi nhuận và lợi tức đầu tư cao nhất cho tôm so với các loại thức ăn có hàm lượng cao hơn.

Hảo Mai (Lược dịch)

2 1 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận